Breaking News

Du Lịch

Du Lịch

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

Câu chữ tự đốt mình trong thư lại Hoài Phong

Có một nhà phê bình đã nhận xét: Thơ là Ngôi Lời. Để thơ thật sự thành Ngôi Lời, người làm thơ phải đào đãi, chọn lọc câu chữ thật kĩ càng, rồi lại phải nhờ năng khiếu trời cho để lắp đúng vị trí, đặt vào đúng huyệt đạo của câu thơ, có như thế câu thơ mới tỉnh ngộ, mới cất cánh bay được về miền nghệ thuật. Người làm nghệ thuật nghiêm chỉnh không bao giờ dễ dãi trong cách dùng câu chữ. Thư lại Hoài Phong, trùm lên vơ tập thơ Mạch ngầm của ông là sự kiệm lời, có cảm giác mỗi câu, mỗi chữ phải gồng mình lên dưới sức nặng của ý tưởng:

Thăm thắp đứng nghiêm

Cho đêm

Đi về sáng

(Cột đèn).

Cả bài thơ có chín chữ, mỗi chữ mang một bộ mặt khác nhau để diễn tả sự đa nghĩa của ý thơ. Bài thơ viết bằng cái vỏ tự sự, nhưng nội lực của câu chữ gợi cho ta những sự liên tưởng về phận người, về cốt cách, phẩm chất của người quân tử giữa cái xô bồ, cái ma quái, tăm tối của cuộc người. Ở bài Xưng hô, ta giật mình vì sự sắp xếp tài tình của ông:

Thường nhật gọi là rau

Đau đầu kêu ngải cứu.

Câu thơ dễ đến mức tối giản, nhưng nhìn lên cái nhan đề, cái tên của sự việc, ta mới bắt đầu nghi ngờ… nghe đâu sự dễ dãi cố tình kia chỉ là cái vỏ, còn “vàng ròng, bạc nén” thì nằm ở mãi thẳm sâu kia, phải đào xới, phải có “mật đồ” mới mong chạm được ý tưởng người viết định miêu tả. Ở bài này một bản chất mà có hai khái niệm khiến ta giật thột trước cái lối dẫn dụ của tác giả. Đọc bài thơ Xưng hô, bỗng nhớ tới thứ dân của thi sĩ Nguyễn Long: Đông thì chật, ít thì thưa/ Chẳng bao giờ thấy dôi thứ dân/ Quanh năm chân đất đầu trần/ Tác tao sau những vũ vần bão giông/ Khi là cây mác, cây chông/ Khi là biển cả, khi không là gì. Thơ hoặc ở sức gợi, là ở sự nén của tiếng nói. Khi tiếng nói được nén tới mức rắn đanh thì tự nó sẽ bốc cháy và bén thẳng vào sự liên can của các tầng suy nghĩ cao hơn, sâu hơn nơi bạn đọc:

Nén chữ là cách làm không phải mới trong thế giới thi ca, nhưng nén chữ một cách tự nhiên, dung dị như Lại Hoài Phong kể cũng không nhiều lắm trong giới nghệ thuật hôm nay:

Rễ cắm xuống đất

Ngọn cất lên trời

(Nhờ)

Ừ, thân thuộc quá, nhờ rễ cắm xuống đất hút sữa của đất đấy thì ngọn mới ở ngôi cao vút trên kia. Cái ơn ấy, cái nguyên lý ấy giản dị vậy thôi mà sao đời khó nhớ đến vậy. Hay từ sâu thẳm trong thực chất CON NGƯỜI cứ khi ở ngôi cao là quên ngay lực lượng đã tôn cao mình? trời đất, đóa sen kia có nở đẹp đẽ, có cao sang nhụy vàng, lá xanh, cánh hồng… là nhờ đâu? dễ thường lại quên những cái rễ đang chúi đầu hút sữa của bùn đen? Đọc Thơ Lại Hoài Phong xin cẩn thận với cái nhan đề của bài thơ. Thơ ông, chính cái nhan đề đã là một câu thơ. Phải giải mã thơ ông từ cái nhan đề của bài thơ thì mới mở được những tầng nghĩa chồng chéo nhau cài trong mấy chữ ít ỏi của bài thơ:

Càng nện

Càng nổi danh

(Trống)

Điều dễ nhận thấy nhất trong Mạch ngầm là vơ các bài thơ đều bắt ta phải suy ngẫm, những tứ thơ cứ lởm chởm ý tưởng, câu chữ cứ sắc lạnh cứa vào vùng liên quan của người đọc:

Áo gì cũng thế

Treo lên đinh

Lưng quay lại phía mình

(Nghĩ về áo)

Áo mà chẳng phải áo, nó là cái vỏ bọc của con người, từ xưa đến nay con người vốn quen gọi nhau bằng cái áo, cái mác của mình. Câu thơ của Lại Hoài Phong bóc tách rành rọt cái nguyên lý ấy. Thơ ông có những bài từ sự chiêm nghiệm, triết lý đã chuyển thành những khái niệm độc đáo. Những tìm tòi ấy, những vật vã ấy chính là những nét tài hoa của Lại Hoài Phong. Thơ ông như “Cổ tích vừa đi vừa sàng chuyện”. Cái hay cái lạ của thơ ông thảy đều sinh ra từ truyền thống của thơ Việt. Đọc bài thơ viết về con sông của ông mà ngỡ như những lời kệ, vừa triết lý vừa đầy chất truyền thống lại đẫm màu đương đại:

Đôi bờ xanh

Điều hành hướng nước

(Sông)

Bài thơ giản dị, tròn vành vạnh như một thực tế mà ngân nga lời dạy của các bậc thánh nhân: Dân là người làm nên tuốt. Đôi bờ xanh kia là thảo dân dưới mọi thời đại, ngày mai một tổ quốc sẽ về đâu, mai sau của một dân tộc sẽ tươi sáng hay đen tối đều tùy thuộc vào lòng dân cả…

NGUYỄN THẾ KIÊN


Designed By VungTauZ.Com